“QUAY LƯNG VỚI TỔ QUỐC VÌ TẤM VÉ XIN TỊ NẠN”: NHẬN DIỆN VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

07/08/2026
Lượt xem: 100
Trân trọng giới thiệu bài viết “QUAY LƯNG VỚI TỔ QUỐC VÌ TẤM VÉ XIN TỊ NẠN”: NHẬN DIỆN VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY, đạt giải C Cuộc thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2026 do Tỉnh ủy Hà Tĩnh tổ chức

Thể loại: Tạp chí

Tóm tắt: Trong những năm gần đây Việt Nam ghi nhận nhiều trường hợp công dân xuất cảnh ra nước ngoài sau đó tìm cách để ở lại lao động bất hợp pháp tại các nước phát triển trên thế giới. Lợi dụng việc này các tổ chức phản động lưu vong đã lôi kéo số công dân này tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước để xin tị nạn chính trị nhằm ở lại lao động. Hiện tượng “Quay lưng với Tổ quốc vì tấm vé tị nạn” không phải là vấn đề mới xuất hiện nhưng đặt trong tình hình bùng nổ về công nghệ thông tin hiện nay thì ngày càng tạo ra nhiều nguy cơ tiềm ẩn cho an ninh Tổ quốc, sự ổn định phát triển Kinh tế - Xã hội của đất nước. Nhận diện các phương thức, thủ đoạn hoạt động và có những giải pháp kịp thời để đấu tranh là vấn đề cấp bách cần đặt ra trong tình hình hiện nay.

Từ khóa: Tị nạn chính trị; diễn biến hòa bình; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; an ninh tư tưởng.

Trong xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, vấn đề di cư quốc tế và bảo hộ người tị nạn ngày càng trở thành nội dung được cộng đồng quốc tế quan tâm. Theo Liên hợp quốc, di cư quốc tế gia tăng mạnh dưới tác động của chiến tranh, xung đột, biến đổi khí hậu và chênh lệch phát triển kinh tế giữa các quốc gia. Trên cơ sở đó, Công ước Geneva năm 1951 về quy chế người tị nạn ra đời nhằm bảo vệ những cá nhân thực sự bị đe dọa về tính mạng và quyền con người.

Tuy nhiên, bên cạnh ý nghĩa nhân đạo tích cực, thực tế thời gian qua cho thấy khái niệm “tị nạn chính trị” đang bị các tổ chức, cá nhân phản động như: Nguyễn Văn Đài, Hội Anh em dân chủ, Việt Tân… lợi dụng nhằm phục vụ mục tiêu cá nhân hoặc chống phá chính trị. Tại Việt Nam, xuất hiện tình trạng một số người sau khi xuất cảnh bằng diện du học, lao động hoặc du lịch đã cố tình ở lại bất hợp pháp, đồng thời tiến hành các hoạt động xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo tại Việt Nam, tham gia các hoạt động biểu tình chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam ở nước ngoài… nhằm tạo lập “hồ sơ chính trị” để xin quy chế tị nạn.

Hiện tượng “quay lưng với Tổ quốc vì tấm vé tị nạn” không chỉ phản ánh sự suy giảm về nhận thức chính trị, đạo đức công dân mà còn là vấn đề liên quan trực tiếp đến an ninh tư tưởng, an ninh phi truyền thống và chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với Việt Nam hiện nay.

Visa tị nạn gồm Refugee visa và Protection visa (nguồn MXH)

1. Luật pháp quốc tế về vấn đề “Tị nạn”

Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã nêu rõ: “Mỗi người đều có quyền tìm kiếm và được hưởng quy chế tị nạn tại nước khác, thoát khỏi sự săn đuổi”1. Hay như trong Tuyên bố về quyền cư trú chính trị năm 1967: “Quyền cư trú chính trị cần được trao cho những người đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Các nước cần phải giúp đỡ những người này để họ có thể nhập cảnh, không trục xuất họ hoặc cưỡng bức họ trở về nước mà họ đang bị truy nã…”2. Bên cạnh đó, người nước ngoài đang cư trú chính trị được quốc gia sở tại bảo đảm về an ninh cũng như cam kết không bị dẫn độ hoặc trục xuất về nước mà họ là công dân hoặc nước mà họ đã cư trú trước khi được cư trú chính trị theo yêu cầu của các quốc gia này.

Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951 và Nghị định thư về vị thế của người tị nạn năm 1967, người tị nạn được xác định là người: “Có lý do chính đáng để lo sợ bị ngược đãi vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, quan điểm chính trị hoặc thuộc về một nhóm xã hội nhất định” 3. Ngoài Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR): Điều 14 công nhận quyền tị nạn cho những người bị bức hại vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch hoặc lập trường chính trị.

Đối với Việt Nam, chế định quyền cư trú mang tính dân chủ và tiến bộ. Theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, những người hưởng quyền cư trú là những người nước ngoài bị truy nã vì bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, vì hoạt động khoa học (Điều 49 Hiến pháp 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam)4.

Như vậy, bản chất của chính sách tị nạn là cơ chế bảo hộ nhân đạo dành cho các đối tượng thực sự bị đe dọa về quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân. Chính sách này không nhằm phục vụ mục đích định cư kinh tế hay tạo điều kiện cho các hoạt động chống phá chính trị.

2. Phương thức, thủ đoạn lợi dụng chính sách tị nạn

Theo thống kê năm 2025 có hơn 5,3 triệu người Việt Nam đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài, trong đó các nước tập trung đông người Việt như: Mỹ 2,2 triệu người, Australia hơn 400.000 người, Canada ước tính khoảng 240.000 người, Nhật Bản 450.000 người, Pháp 300.000 người, Đức 200.000 người, Cộng hòa Séc 70.000 người … con số này vẫn tăng thêm theo hàng năm5. Trong số đó, có nhiều người xuất cảnh ra nước ngoài nhằm mục đích lao động tại các nước sở tại nhưng vì nhiều lý do điều kiện nhập cảnh không đầy đủ hoặc ở những nước chưa có kí kết về hợp tác lao động với Việt Nam nên họ đã tìm cách thức như: Đi du lịch trốn ở lại, vượt biên trốn vào nước sở tại, bỏ trốn khỏi công ty ký kết để ra ngoài… Lợi dụng việc các nước như Mỹ, các nước Châu âu, Australia .. đều chịu ràng buộc về các quy định của Công ước về vị thế của người tị nạn năm 1951 và Nghị định thư về vị thế của người tị nạn năm 1967 để nộp đơn xin quy chế tị nạn hòng được ở lại lao động. 

Đánh vào tâm lý muốn nhanh chóng được ở lại nước sở tại để lao động kiếm thêm thu nhập và không bị trục xuất về nước các tổ chức phản động đã lợi dụng quy chế tị nạn để lôi kéo số công dân này nhằm phát triển lực lượng và tổ chức các hoạt động chống phá chống phá Đảng, Nhà nước. Các tổ chức phản động sau khi lôi kéo số công dân này vào tổ chức liền hướng dẫn họ vẻ ra các viễn cảnh bản thân là nạn nhân bị áp bức về “tự do ngôn luận”, “Dân chủ, nhân quyền”, bị đàn áp “tôn giáo”…ở Việt Nam nhằm tạo dựng hồ sơ để nước sở tại cấp giấy thừa nhận quy chế tị nạn.

Về thực chất, đây là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức công dân, sự lệch chuẩn trong nhận thức chính trị và là hành vi phủ nhận trách nhiệm đối với quốc gia, dân tộc. Để nhanh chóng tạo được vỏ bọc là nạn nhân chính trị, tôn giáo, đàn áp trong nước các đối tượng thường sử dụng các chiêu bài chủ yếu:

Thứ nhất, xuyên tạc trên không gian mạng: Thông qua các nền tảng mạng xã hội, các đối tượng đăng tải video, bài viết hoặc livestream với nội dung bóp méo sự thật, vu cáo Việt Nam “đàn áp dân chủ”, “vi phạm nhân quyền”, “đàn áp tôn giáo”, tham gia các buổi biểu tình phản đối Việt Nam trước các đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài, ủng hộ chế độ Việt Nam Cộng Hoà, ủng hộ các đối tượng phạm tội ở trong nước sau đó đăng tải lên mạng xã hội để làm dày hồ sơ, tạo vỏ bọc mình là người bất đồng chính kiến chính trị bị đàn áp phải rời bỏ đất nước.

Thứ hai, liên kết với các tổ chức chống đối lưu vong: Một số cá nhân đã bị lôi kéo tham gia các tổ chức phản động ở nước ngoài nhằm được hỗ trợ truyền thông, tài chính và tư vấn pháp lý phục vụ hồ sơ xin tị nạn. Sau khi tham gia các tổ chức phản động lưu vong thì các đối tượng này thường tham gia các hoạt động hội họp, sinh hoạt của tổ chức, tiến hành kí kết, tuyên thệ, tham gia phỏng vấn với các báo, đài, các tổ chức không có thiện cảm đối với Việt Nam để xuyên tạc tình hình “dân chủ, nhân quyền”, “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”… tại Việt Nam.

Công dân Việt Nam bị lôi kéo tham gia các hoạt động chống phá

              Đảng, Nhà nước để làm hồ sơ cấp tị nạn chính trị.

Đặt trong tình hình hiện nay khi các quốc gia ở Châu âu, Mỹ đã ban hành các chính sách siết chặt các quy định nhập cư, đặt ra nhiều quy định chặt chẽ hơn đối với điều kiện xin tị nạn như: Vương Quốc Anh thay đổi thời gian hưởng quy chế tị nạn, chuyển từ quy chế tị nạn “ổn định lâu dài” sang “tạm thời, kiểm soát chặt”. Thay vì cấp tị nạn lâu dài thì nay chuyển thành cấp tạm thời 2,5 năm, sau đó hết thời gian sẻ xét lại nếu không chứng minh được “vẫn gặp nguy hiểm” thì sẻ trục xuất về nước; ở Mỹ sau khi Tổng thống Donald Trum đắc cử đã tiến hành một loạt chính sách nhập cư hà khắc dẫn đến con đường xin tị nạn của số công dân Việt Nam vào Mỹ gặp nhiều khó khăn… Các Tổ chức phản động lưu vong đã lợi dụng tình hình đó lôi kéo công dân đang có nhu cầu xin giấy phép tị nạn, số có nguy cơ bị trục xuất tham gia sâu hơn vào các tổ chức phản động, trở thành những thành viên hoạt động tích cực, thể hiện những lập trường, thái độ chống đối Đảng Nhà, nước kịch liệt dưới nhiều danh xưng do các tổ chức này tung hô như: “người bất đồng chính kiến”, nhà đấu tranh vì “dân chủ, nhân quyền”, bị “cưỡng bức chính trị” … để nhanh chóng làm dày hồ sơ để xin “tị nạn chính trị” hoặc gia hạn để được ở lại.

Thứ ba, quốc tế hóa các vấn đề nội bộ: Các đối tượng cố tình lợi dụng các vụ việc dân sự, khiếu kiện hoặc vấn đề tôn giáo để tiến hành các hoạt động xuyên tạc, bóp méo, hướng lái dư luận nhằm kêu gọi các tổ chức phản động, các tổ chức quốc tế lên tiếng tạo áp lực dư luận. Những đối tượng này khi bị cơ quan chức năng triệu tập làm việc thì tiến hành thu thập, sao chụp các tài liệu, giấy tờ liên quan để gửi ra cho các đối tượng ở nước ngoài nhằm hoàn thiện hồ sơ xin quy chế tị nạn, sau đó tìm cách xuất cảnh ra nước ngoài để đến nước đã ấn định trước đó.

3. Hệ luỵ của hiện tượng “Quay lưng với Tổ quốc vì tấm vé tị nạn”

Dưới góc độ chính trị học, hiện tượng này phản ánh sự kết hợp giữa chủ nghĩa cơ hội cá nhân với hoạt động chống phá có tổ chức từ bên ngoài. Nhiều cá nhân không xuất phát từ nhu cầu bảo vệ nhân quyền thực sự mà chủ yếu nhằm đạt mục tiêu định cư tại các quốc gia phát triển. Để được công nhận quy chế tị nạn, họ chủ động xây dựng hình ảnh “người bất đồng chính kiến”, tham gia đăng tải thông tin sai sự thật, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam. Một số tổ chức phản động lưu vong như: “Việt Tân”, “Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt ở hải ngoại”, “Uỷ ban cứu người vượt biển” (BPSOS), “Hội anh em dân chủ”… thường lợi dụng tâm lý muốn định cư ở nước ngoài của một bộ phận người dân để lôi kéo tham gia các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam. Điều này đã để lại nhiều hệ luỵ rất lớn, cụ thể:

Thứ nhất, Tác động đến an ninh tư tưởng: Đặc điểm chung của số đối tượng này là thường xuyên đăng tải, chia sẻ các nội dung phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc lịch sử dân tộc hoặc bóp méo các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước. Các thông tin này thường được trình bày dưới dạng “trải nghiệm cá nhân”, “tiết lộ sự thật”, “góc nhìn nội bộ” nhằm tạo cảm giác khách quan và tăng khả năng tác động tâm lý đối với người tiếp nhận.

Theo Báo cáo Digital Việt Nam năm 2025, Việt Nam có hơn 78 triệu người sử dụng internet, trong đó nhóm thanh niên chiếm tỷ lệ lớn. Điều này đồng nghĩa không gian mạng đang trở thành “mặt trận nhận thức” có ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng xã hội. Nếu không được định hướng đúng đắn, các thông tin sai lệch có thể dẫn đến hiện tượng hoài nghi chính trị, suy giảm niềm tin xã hội và làm suy yếu “sức đề kháng tư tưởng” của người dân trong nước.

Thứ hai, Ảnh hưởng đến hình ảnh quốc gia: Nhiều đối tượng sau khi ra nước ngoài đã sử dụng các nền tảng mạng xã hội như: YouTube, Facebook, TikTok hoặc các tổ chức truyền thông có xu hướng chính trị cực đoan để phát tán thông tin sai lệch, phiến diện hoặc thiếu kiểm chứng về tình hình chính trị – xã hội ở Việt Nam. Các nội dung này thường tập trung vào những vấn đề nhạy cảm như: Dân chủ, Nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do báo chí… Một số đối tượng lợi dụng danh nghĩa “đấu tranh dân chủ”, “bị đàn áp chính trị”, tham gia nhiều buổi phỏng vấn để cung cấp thông tin sai lệch, phiến diện hoặc xuyên tạc về tình hình Việt Nam trên các nền tảng truyền thông nước ngoài. Những thông tin này có thể tạo ra nhận thức sai lệch trong dư luận quốc tế, ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong phát triển kinh tế, bảo đảm quyền con người và ổn định xã hội.

Đặc biệt, các luận điệu xuyên tạc thường bị các tổ chức chống đối hoặc thế lực thù địch lợi dụng nhằm gây sức ép chính trị, tác động đến quan hệ đối ngoại và vị thế quốc tế của Việt Nam.

Thứ ba, ảnh hưởng đến kinh tế và bản thân công dân: Những đối tượng phản động lưu vong như Nguyễn Văn Đài (Hội anh em dân chủ) đã lôi kéo các công dân Việt Nam tham gia vào tổ chức “Hội anh em dân chủ” để tham gia các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước nhằm xây dựng vỏ bọc, tạo hồ sơ xin tị nạn chính trị và thu lợi với các mức giá như: Hồ sơ xin định cư khoảng 250 Bảng Anh/hồ sơ, phí đóng thù lao dao động từ 30 đến 40.000 USD theo từng trường hợp, phí đăng tải bài viết khoảng 1.500 bảng Anh, phí mua áo phông in hình logo “Hội anh em dân chủ” khoảng 30 Bảng Anh… Không những có những thiệt hại về kinh tế mà chính những công dân khi tham gia vào các tổ chức phản động lưu vong, các đường dây đưa người xuất cảnh trái phép ra nước ngoài còn đối mặt với nguy cơ vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam hoặc bị cô lập xã hội.   

                           

Đối tượng Nguyễn Văn Đài – Hội anh em dân chủ (nguồn: MXH)

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh trong tình hình mới

Thực tiễn phát triển của Việt Nam là minh chứng khách quan bác bỏ các luận điệu sai trái về “đàn áp dân chủ” hay “vi phạm nhân quyền”. Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Tỷ lệ nghèo giảm mạnh; hệ thống y tế, giáo dục ngày càng hoàn thiện; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm theo quy định của pháp luật. Việc Liên hợp quốc bầu Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023–2025 và tiếp tục tái đắc cử nhiệm kỳ 2026 – 2028 là sự ghi nhận khách quan của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người.

 

Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh trong tình hình mới, tác giả xin được đề xuất một số giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng: Cần đẩy mạnh giáo dục lòng yêu nước, ý thức công dân và trách nhiệm quốc gia trong hệ thống giáo dục và truyền thông xã hội. Nhất là đối với thế hệ trẻ, thanh niên những công dân trong độ tuổi lao động và có nhu cầu cao về việc làm, có nhu cầu về xuất cảnh ra nước ngoài để làm việc. Việc đẩy mạnh giáo dục chính trị, tư tưởng cần được đẩy mạnh cả về nội dung lẫn phương pháp để mỗi công dân nhận thức rõ về truyền thống cách mạng, giá trị lịch sử, trách nhiệm của mỗi công dân với Tổ quốc với đồng bào. Điều này phù hợp với Quan điểm của Đảng đã đưa ra tại Nghị Quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng: “Khơi dậy truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”6.

Thứ hai, Nâng cao hiệu quả đấu tranh trên không gian mạng: Các cơ quan chức năng cần chủ động phản bác thông tin sai trái, xây dựng môi trường truyền thông lành mạnh và lan tỏa thông tin tích cực về Việt Nam. Phải huy động được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đấu tranh lại các luận điệu xuyên tạc của các đối tượng phản động, các đối tượng xuất cảnh ra nước ngoài chống phá Đảng, Nhà nước để tìm cơ hội xin tị nạn chính trị. Đồng thời phải tiến hành phủ xanh các thông tin tích cực để xoá nhoà đi những luận điệu xuyên tạc của các đối tượng.

Phải tăng cường tuyên truyền để mỗi người dân nhận thức được quan điểm cốt lõi của Đảng ta luôn bình đẳng, nhân văn, lấy dân làm gốc để đập tan các âm mưu, luận điệu xuyên tạc của các đối tượng. Tại Đại hội XIV của Đảng thể hiện rất rõ quan điểm trên “lấy con người làm trung tâm cho mọi chính sách phát triển”, với định hướng phát triển thể hiện quan điểm vì nhân dân của Đảng “quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo cho đời sống nhân dân”, “phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết dân tộc. Quán triệt sâu sắc quan điểm “lấy dân làm gốc”, nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hành phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”7. 

Thứ ba, Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội: Tiếp tục nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, giải quyết tốt các vấn đề việc làm và giảm chênh lệch phát triển giữa các vùng miền nhằm hạn chế tình trạng xuất cảnh trái phép. Điều này thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng ta, tại Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đưa ra nhiều nhiệm vụ trọng tâm về phát triển kinh tế trong đó Nghị quyết nhấn mạnh nhiệm vụ: Về kinh tế “phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước bình quân giai đoạn 2026 – 2030 từ 10% trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD…”8, về xã hội “.. tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 – 40%. Tỉ lệ hộ nghèo duy trì mức giảm 1 – 1,5 điểm %/ năm. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất”9. Với những quan điểm, chính sách phát triển Kinh tế - Xã hội của Đảng, Nhà nước trong thời gian qua thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước trong việc tạo ra công ăn, việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người lao động thì trong tương lai sẻ kéo giảm việc xuất cảnh ra nước ngoài hòng tìm kiếm cơ hội làm việc như hiện nay.

Thứ tư, Tăng cường hợp tác quốc tế: Tăng cường ký kết và thực thi các hiệp định song phương, đa phương về quản lý xuất nhập cảnh, dẫn độ, phòng chống mua bán người và chia sẻ thông tin an ninh. Việc phối hợp chặt chẽ với lực lượng chức năng các nước sẽ giúp phát hiện sớm các đường dây tổ chức di cư trái phép, kịp thời ngăn chặn hoạt động môi giới và hỗ trợ bảo hộ công dân; nâng cao hiệu quả phối hợp với các tổ chức quốc tế như IOM, INTERPOL, UNODC… trong trao đổi dữ liệu, đào tạo cán bộ và triển khai các chương trình phòng chống tội phạm xuyên quốc gia. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực quản lý di cư an toàn, hợp pháp và nhân đạo; tăng cường đấu tranh ngoại giao và truyền thông đối ngoại nhằm cung cấp thông tin khách quan, chính xác về tình hình nhân quyền, tự do tôn giáo và chính sách phát triển của Việt Nam. Qua đó góp phần hạn chế việc các tổ chức thiếu thiện chí lợi dụng vấn đề “tị nạn chính trị” để xuyên tạc tình hình trong nước hoặc gây sức ép chính trị đối với Việt Nam.

Hiện tượng “quay lưng với Tổ quốc vì tấm vé tị nạn” là vấn đề mang tính chính trị – xã hội phức tạp, phản ánh sự đan xen giữa động cơ lợi ích cá nhân, sự suy giảm ý thức công dân và tác động của các chiến lược chống phá từ bên ngoài. Dưới góc độ nghiên cứu an ninh quốc gia, đây không chỉ là hành vi vi phạm pháp luật mà còn là thách thức đối với an ninh tư tưởng, khối đại đoàn kết dân tộc và hình ảnh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trong tình hình hiện nay, việc nâng cao “sức đề kháng” chính trị – tư tưởng cho xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Mỗi công dân cần nhận thức rõ rằng lòng yêu nước không chỉ thể hiện trong thời chiến mà còn thể hiện ở trách nhiệm bảo vệ danh dự quốc gia, giữ gìn sự thật khách quan và đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước trong thời bình theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý”10./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Điều 13 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948.

[2] Điều 14 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948.

[3]Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

[4]Công ước Geneva năm 1951 về quy chế người tị nạn.

[5]https://dinhcuglobal.com/so-lieu-thong-ke-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-2025

[6]Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2026, trang  373.

[7]Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2026, trang  382.

[8]Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2026, trang  376.

[9]Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2026, trang  376.

[10] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 10, Nxb CTQG, năm 2011, trang 378.

 

TÔ NGỌC HÙNG - PHÓ TRƯỞNG CÔNG AN XÃ XUÂN LỘC
Liên kết website